Thực Hành “Tonglen” qua Om Ah Hung

Thực hành “Tonglen” qua Om Ah Hung

(Trích từ Pháp trì niệm kim cang Om Ah Hung do Garchen Rinpoche giảng tại trung tâm Garchen Retreat Center tại Đài loan. Ina Dhargye thông dịch Tạng – Anh. KOD chuyển Việt ngữ)

SP in B & WĐầu tiên, khi chúng ta mới bắt đầu thực hành, chúng ta đã phát khởi một chút tâm vị tha. Chúng ta hiểu rằng tâm vị tha hay Bồ đề tâm thực sự mang lại lợi lạc nhiều nhất cho chính bản thân ta. Vì chúng ta hiểu rằng nếu chúng ta phát khởi Bồ đề tâm thì chấp ngã sẽ giảm thiểu, và nếu chấp ngã giảm thiểu thì bản thân ta đạt được giác ngộ.

Chúng ta phát khởi tâm thức yêu thương đó khi chúng ta, ví dụ, nghĩ về sự tử tế mà người khác đã đối xử với ta. Chúng ta phát khởi tâm vị tha vì trước hết chúng ta hiểu rằng nó mang lại lợi lạc cho chính bản thân chúng ta. Khi chúng ta hiểu được lợi ích của việc đó thì đây là thời điểm để chúng ta bắt đầu thực hành pháp “Tonglen” – cho và nhận.

Con có thể thực hành quán tưởng đạo sư của con hay bất kỳ một vị bổn tôn hộ phật nào. Giai đoạn sinh khởi hay quán tưởng bổn tôn của con có thật rõ ràng hay không thì điều này cũng không thực sự quan trọng. Nếu một bổn tôn chỉ xuất hiện lờ mờ trong tâm con thì điều đó cũng là đủ. Thực sự thì nếu chỉ có màu sắc của bổn tôn xuất hiện trong tâm con thì điều này cũng là đủ.

Tâm của con như một tấm gương soi. Trên thực tế thì chẳng có gì thực sự ở đó cả. Chúng ta chỉ tạo tác khái niệm về một cái tôi mà thôi. Do vậy, khi chúng ta thay đổi sự tạo tác này, thay bởi nghĩ về cái tôi thì chúng ta nghĩ về bổn tôn. Vì tâm như một tấm gương soi, tâm sẽ trở thành như [tâm của] bổn tôn. Chúng ta thực sự trở thành bổn tôn. Ý niệm này cần phải được huân tập đi huân tập lại cho tới khi con không bao giờ quên bổn tôn.

Sau đó, nếu con không bao giờ quên bổn tôn thì tâm con trở thành bổn tôn. Bổn tôn có thân và tâm. Để đạt được thân của bổn tôn thì tương đối dễ dàng. Khi chúng ta nghĩ về bổn tôn, tâm của chúng ta trở thành bổn tôn.

Sau đó, cái chúng ta thực sự cần trưởng dưỡng là tâm bổn tôn, đó là Bồ đề tâm, là mong ước mang lại lợi lạc cho người khác. Lúc đó, khi tâm đó (bồ đề tâm) hiện diện, bổn tôn trở thành một bổn tôn trí tuệ thực sự. Nếu ý niệm mong ước mang lại lợi lạc cho chúng sinh bị thiếu vắng thì chỉ có hình tướng là bổn tôn, còn tâm thì không. Do đó, họ chỉ là một thánh phàm. Chúng ta cần phải cẩn trọng về điểm này. Điều cần thiết là khi con thực hành một vị bổn tôn hộ phật, con phải thường xuyên thực hành trên cơ sở mong ước đem lại lợi lạc cho chúng sanh.

Sau đó, chúng ta nghĩ về nỗi khổ đau của chúng sanh và cái gì là nhân của khổ đau. Nhân của khổ đau của mọi chúng sanh xuất phát từ cảm xúc ô nhiễm. Ví dụ, trong thế giới này, có những nước có rất nhiều chiến tranh. Nhân của chiến tranh là các hành động đã thực hiện với tâm oán ghét và đố kỵ.

Cuối cùng thì tất cả những điều này đều xuất phát từ chấp ngã, từ mong ước hạnh phúc cho riêng bản thân mình, xuất phát từ một tâm ích kỷ. Mọi khổ đau đều thực sự đến từ đó. Không có một khổ đau nào mà lại không đến từ đó. Tất cả khổ đau đều đến từ chấp ngã, oán ghét, đố kỵ, v.v.

Tóm lại, thậm chí một sự khổ sở nhỏ nhất cũng chỉ có duy nhất nhân chấp ngã. Do vậy, khi hiểu được điều này, con nên nghĩ liệu chấp ngã của tất cả chúng sanh trong ba cõi luân hồi và chấp ngã của bản thân con có giống nhau hay không? Khi con thực sự nhìn vào chấp ngã, con sẽ thấy rằng nó hoàn toàn giống nhau.

Sau đó, định nghĩa cái tôi, cái tôi thực sự ở đâu? Khi con nhìn vào cái tôi thì thực sự không tìm thấy nó ở đâu cả. Nó chỉ là một thứ gì đó chúng ta đã tạo tác ra mà thôi. Chúng ta đang bám vào một cái tôi khi mà thực sự thì không có cái tôi nào cả.

Thế thì tại sao chúng ta không thể đơn giản buông bỏ nó? Đó là vì chúng ta đã huân tập với khái niệm cái tôi từ vô thủy vô chung trong luân hồi. Do đó, tâm đã trở thành như những tảng băng trôi nổi trên đại dương. Tâm của chư Phật thì như đại dương mênh mông. [Tuy nhiên, dù có] vô lượng chư Phật, [dù] đại dương mênh mông [đến thế nào] thì cũng không có sự nhị nguyên, không có sự phân chia trong đại dương mênh mông.

Các hoạt động giác ngộ khác nhau của chư Phật thì như những con sóng trong đại dương. Mặt khác, tâm của chúng sanh trong luân hồi thì như các tảng băng. Đó là do chấp ngã. Vì chấp ngã, chúng ta phát khởi các cảm xúc ô nhiễm. Những cảm xúc này dẫn chúng ta đến tích tập nghiệp. Những hành động của nghiệp đã in dấu ấn nghiệp vào tâm. Những dấu ấn này sau đó tạo ra Luân hồi.

Do vậy hiểu được điều này thực sự quan trọng. Gốc rễ của Luân hồi là chấp ngã. Nếu quán tưởng theo một cách khác, khi con hít không khí vào, con có thể nghĩ rằng mình đang nhận vào tất cả chấp ngã và che chướng của chúng sanh. Sau đó, không khí đi xuống tới rốn nơi con quán tưởng một ngọn lửa, và con nghĩ rằng con hít sự chấp ngã của chúng sanh vào và tất cả chấp ngã sau đó sẽ tan chảy vào ngọn lửa tại rốn, giống như việc đổ dầu vào lửa.

Nghĩ rằng, vào lúc này, tất cả chấp ngã của chúng sanh bị thiêu rụi hết và sự chấp ngã được chuyển hóa thành lòng vị tha.

Do vậy, con hít vào với Om, và nghĩ theo cách này, mang vào tất cả chấp ngã của chúng sanh. Sau đó với Ah, chấp ngã tan chảy vào ngọn lửa tại rốn. Sau đó, với Hung, con thở ra và nghĩ rằng Bồ đề tâm của con hay sự chấp ngã đã [chuyển hóa để] trở thành lòng vị tha được tỏa ra và thâm nhập, chan hòa khắp tất cả chúng sanh.

Do vậy, việc đầu tiên, chúng ta cần phải nhận diện chấp ngã. Đây là chấp ngã. Sau đó, chúng ta đưa chấp ngã vào bên trong và chúng ta quán tưởng rằng giờ đây chấp ngã đã bị thiêu rụi. Sau đó thì chấp ngã trở thành tâm vị tha sau khi đã bị thiêu rụi. Sau đó tâm vị tha được tỏa ra cùng với chủng tự Hung và [con] nghĩ rằng tâm vị tha và chủng tự Hung chan hòa vào tất cả chúng sanh. Đó là cách mà chúng ta có thể quán tưởng.

Hoặc con cũng có thể quán tưởng rằng khi con hít không khí vào, chấp ngã và cảm xúc ô nhiễm xuất hiện dưới dạng đám khói tối màu hoặc đám khói đen. Sau đó, khi con thở ra, không khí tinh khiết, đã được tịnh hóa – con có thể nghĩ không khí đã được tịnh hóa này ở dưới dạng các chủng tự gốc hoặc dưới dạng cầu vồng của bổn tôn Quan Thế Âm Chenrezig hoặc Quan Âm Tara, v.v., bất kể là bổn tôn nào – thâm nhập khắp tất cả chúng sanh và mang lại cho họ bất cứ thứ gì họ cần. Ví dụ, nếu họ muốn giàu có, nó sẽ mang lại cho họ sự giàu có, nếu họ muốn có con cái, nó sẽ mang lại cho họ những đứa con, hoặc nếu họ cần thức ăn, nó sẽ mang đến thức ăn cho họ, v.v. Và nó làm phát khởi Bồ đề tâm trong tâm của những ai chưa phát khởi Bồ đề tâm.

Theo cách này, con có thể nghĩ rằng nó chan hòa vào khắp tất cả chúng sanh. Con chỉ có thể thấy được liệu con có khả năng chan hòa vào khắp tất cả chúng sanh hay không khi con nhìn vào chính tâm con. Khi con nhìn vào tâm của chính mình, đầu tiên con thấy nỗi khổ đau to lớn của tất cả chúng sanh trong tam giới, con hiểu được rằng chúng sanh là vô lượng vô biên, cũng vậy, những dấu ấn nghiệp và ảo mộng của họ là vô lượng vô biên.

Sau đó, bước tiếp theo, con hiểu được gốc rễ của tất cả những khổ đau đó đến từ chấp ngã. Hiểu được bước thứ ba này, con muốn giúp họ và mang lại lợi lạc cho họ. Nếu con con có ước muốn đem lại lợi lạc cho họ thì con có khả năng thể nhập vào họ. Tình yêu thương và lòng bi mẫn của con càng lớn bao nhiêu thì năng lực chan hòa vào tất cả chúng sanh của con càng lớn bấy nhiêu. Do vậy, con chan hòa vào chúng sanh với lòng bi mẫn và tịnh hóa che chướng của họ. Cùng lúc đó, con cũng có thể nghĩ rằng, tâm này cũng thâm nhập tất cả các cõi tịnh độ và ở đó tâm con cúng dường tất cả chư Phật.

Do vậy, trong khả năng đem lại lợi lạc [cho chúng sanh] này, con nên có một sự tự tin rất vững chắc. Đây là cách để con thực hành Om Ah Hung trong bối cảnh của pháp “Tonglen”.

Tu Tập Để Tâm An Định và Tu Tập Kim-Cang Thừa

ĐẠI SƯ GARCHEN RINPOCHE BAN KHẨU TRUYỀN VÀ TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA CÁC ĐẠO HỮU THUỘC NHÓM TU HỌC ORGYEN CHOLING VIỆT NAM

Câu hỏi thứ nhấtVẻ bên ngoài của con rất điềm tĩnh nhưng bên trong thường không yên, vọng tưởng nổi lên như sóng cồn. Cầu mong đạo sư chỉ dạy cho con phápgarchen-rinpoche môn tu tập giúp cho tâm được an định.

Trả lời của Garchen Rinpoche:  Đối với những hành giả sơ căn mới bước trên con đường tu tập thì cách tốt nhất là luôn suy gẫm và quán chiếu về Bốn Tư Tưởng Chuyển Tâm (Four Thoughts that Turn the Mind). Bốn Tư Tưởng Chuyển Tâm đó là (1) thân người hiếm quý khó tìm, với đầy đủ thuận duyên để có thể bước đi trên con đường đạo, (2) nhân quả, (3) vô thường và (4) những khiếm khuyết, của cõi ta-bà. Tất cả những vọng tưởng đều phát xuất từ tâm vị kỷ. Gốc rễ của mọi vọng tưởng là do chấp ngã. Nếu con chấp ngã càng nhiều thì những xúc cảm ô trược và vọng tưởng trong con sẽ càng trở nên ào ạt. Khi càng quán chiếu về Bốn Tư Tưởng Chuyển Tâm thì sẽ càng hiểu được rằng tâm vị kỷ và chấp ngã là điều sai trái, tạo thêm ý nghiệp, làm cho con thêm phiền não, đánh mất đi thời giờ tu tập quý báu mà thôi. Hiểu được như vậy rồi thì con sẽ phải thực tập vị tha. Khi bớt chấp ngã và tâm vị kỷ không còn mãnh liệt thì vọng tưởng cũng sẽ dần dần lắng xuống vì những phiền não sẽ không dễ nổi lên, hoặc nếu có nổi lên thì cũng sẽ được nhận diện để chặt đứt đi ngay tức khắc.

Đối với những hành giả trung căn thì phải luôn luôn nuôi dưỡng và thực hành Bồ-Đề tâm, là tâm nguyện cao cả hy sinh cho người khác, luôn luôn quên mình mà xả thân làm những công việc lợi lạc cho chúng sinh, cùng với ý nguyện muốn đắc quả giác ngộ cũng vì lợi lạc cho chúng sinh. Các con phải luôn luôn cố gắng nuôi dưỡng một tâm lành. Tâm tốt lành (a good heart) hay tâm hoà nhã (a kind heart) là điều mà đức Đạt Lai Lạt Ma thường xuyên nhắc nhở chúng ta. Khi tâm lành và tâm hoà nhã được nuôi dưỡng trong mỗi một phút giây thì vọng tưởng cũng sẽ dần dần giảm thiểu.

Riêng đối với các hành giả thượng căn thì các con sẽ phải quán chiếu để hiểu về bản chất của tâm, về bản chất của các xúc cảm của tâm ô trược. Tâm ô trược hay các xúc cảm phiền não không khác chi những cơn sóng ồ ạt trong biển cả. Sóng chính là biển, biển không thể không có sóng. Sóng không khác biển. Cả hai đều hợp nhất. Cũng như thế, vọng tưởng không nằm ngoài chân tâm. Vọng tưởng và chân tâm trên thực chất chỉ là một. Khi sóng tan đi, thì tan đi về đâu? Không đi đâu cả. Sóng trở thành biển. Sóng và biển hợp nhất.

Khi các con thực tập yêu thương, luôn quan hoài đến kẻ khác trong tinh thần vô chấp thì đó chính là tình yêu tối thượng không gì sánh bằng. Khi trong tâm lúc nào cũng chan hoà tình yêu thương tối thượng thì sân hận sẽ giảm thiểu, đố kỵ sẽ giảm thiểu, vọng tưởng sẽ giảm thiểu. Nguồn gốc đưa chúng sinh đoạ vào các cõi thấp chính là tâm sân hận và tâm oán ghét. Do đó, ngay cả bây giờ có phải mất mạng đi nữa thì các con cũng không được phát tâm sân hận hay oán ghét một ai, tuyệt đối không được xoay lưng lại với tình yêu thương! Đây chính là những phẩm hạnh cao cả của giác ngộ.

Cái gì có thể giúp các con thực hành được những điều trên? Chánh niệm và tỉnh thức có thể giúp được các con. Khi tâm sân vừa lóe lên, thì hãy ngay lập tức lấy chánh niệm ra để dập tắt. Rồi sau đó, hãy tỉnh giác và quán chiếu xem cơn giận này từ đâu đến, do đâu mà ra. Hãy cố gắng nhìn vào bản chất của cơn giận. Cơn giận này có thật hay không có thật? Thực chất của cơn giận nằm ở đâu? Hay cũng chỉ là duyên khởi nên trong cơn giận, hãy nhận ra được tánh Không. Nếu các con chịu khó giữ chánh niệm và quán chiếu sâu sắc trong mỗi một phút giây thì một ngày kia, các con sẽ tự giải thoát mình ra được hết tất cả các vọng tưởng và xúc cảm ô trược.

Đức Jigten Sumgon [vị Tổ khai sáng giòng truyền thừa Drikung Kagyu của Phật Giáo Tây Tạng] đã từng nói:

‘Tất cả chư Phật đều nằm trong tâm của chúng sinh.’

Điều này có nghĩa là chư Phật trong ba đời phát xuất từ chính sự thực hành chánh niệm và tỉnh giác của chúng sinh. Tâm của Phật và tâm của chúng sinh cùng một bản chất. Khi thực hành chánh niệm và tỉnh giác thì các con sẽ biết được đâu là sai, đâu là đúng. Từ đó, trí tuệ nảy sinh. Khi trí tuệ nảy sinh thì các xúc cảm ô trược và vọng tưởng sẽ được tiêu trừ ngay từ trong trứng nước.

Thật ra, tâm của Phật và tâm của chúng sinh cùng một bản chất, cùng là nước. Nhưng tâm của Phật giống như nước trong văn vắt, trong khi tâm của chúng sinh thì giống như nước bùn đục ngầu. Bùn đục trong tâm của chúng sinh chính là những xúc cảm ô trược và vọng tưởng, là tâm chấp ngã, bám víu vào cái ta hư huyễn. Dù là như vậy nhưng bùn đục này cũng đâu có nằm ngoài nước, đâu có tách rời khỏi nước? Giống như những xúc cảm ô trược và vọng tưởng cũng không nằm ngoài tâm, không tách biệt khỏi tâm nhưng khi biết cách thanh tịnh hoá thì bùn dơ sẽ lắng xuống, nước trong sẽ trồi lên.

Nếu ngày hôm nay, các con biết quán chiếu để giúp cho bùn dơ lắng xuống và để cho nước trong trồi lên thì mỗi ngày mỗi chút, mỗi tháng mỗi chút, mỗi năm mỗi chút, bùn cạn sẽ càng lắng và phía trên mặt nước sẽ chỉ còn toàn nước trong. Đến một lúc nào đó, khi tâm tỉnh giác của các con hoàn toàn sáng ngời và mãnh liệt nhất, đó là khi các con sẽ thành đạt Phật quả.

Đức Phật đã giảng dạy 84,000 pháp môn, nhưng các con chẳng nên lo lắng có quá nhiều pháp môn [chẳng biết nên theo pháp môn nào]. 84,000 pháp môn đó cũng không nằm ngoài hai chân lý huyền diệu, là tục đế và chân đế, là sự thật tương đối và và sự thật viên mãn. Sự thật thứ nhất là sự thật tương đối, là tình yêu thương, lòng quan hoài vô chấp, vô vị kỷ đến vô lượng chúng sinh. Đây chính là tâm Bồ-Đề tương đối, là tâm tốt lành, tâm hoà nhã, tâm từ ái. Nhưng muốn thực hành được tâm Bồ-Đề tương đối thì các con cần có một hiểu biết đúng đắn về nhân quả! Còn sự thật thứ nhì, sự thật viên mãn là dùng chánh niệm và tỉnh giác để quán chiếu trực nhận tánh Không, trực nhận vô ngã. Khi trực nhận vô ngã thì Bồ-Đề tâm sẽ viên mãn như trăng tròn. Chỉ cần các con thực hành sâu sắc hai chân lý huyền diệu này là các con đã thực hành hết 84,000 pháp môn của đức Phật rồi.

Continue reading

Ý Nguyện Chung Nhất (Gong Chik) – Pháp Vương Kyobpa Jigten Sumgon

“Ý nguyện chung nhất–Giáo pháp thâm diệu,” gọi tắt là “Gong Chik, là tập hợp những khai thị tâm yếu của Pháp Vương Jigten Sumgon về sự chung nhất của các đường tu giải thoát và của quả vị rốt ráo trong Phật đạo. Ở khía cạnh tương đối, như lời ngài khai thị,“tất cả các thừa đều là nhất thừa đến từ một truyền thừa duy nhất” và “tám mươi bốn ngàn pháp môn cũng chỉ là một phương tiện để đạt giác ngộ.” Ở khía cạnh viên mãn thì cái chung nhất ở đây chính là Phật tánh nguyên sơ vốn sẵn có nơi chính nguồn tâm của mỗi chúng sinh.

 

Pháp Vương Kyobpa Jigten Sumgon (Ratnashri) là vị Sơ Tổ khai lập dòng truyền thừa Drikung Kagyu vào thế kỷ 12 tại Tổ đình Drikung Thil ở trung phần Tây Tạng. Ngài được xem như là hiện thân của đức Long Thọ, và nổi danh là người đã triệt ngộ tánh không và các pháp duyên sinh. Ngài đã khai đạo và ban truyền giáo cho hằng trăm ngàn môn đồ đến từ Tây Tạng, Trung Hoa, Mông Cổ, Ấn Độ và Nepal.

Gong Chik,” gồm 152 câu khai thị trong bảy phần chính yếu. Ngoài ra còn có thêm một phần phụ lục gồm bốn mươi sáu câu giải do Đại Sư Tenzin Chokyi Nyima (Dharma Surya), tức Sư Tổ Drikung Kyabgon Chungtsang Rinpoche đời thứ Ba biên soạn vào thế kỷ 18, dựa trên những lời khai thị gốc của Sơ Tổ Jigten Sumgon. Từ thế kỷ 12 cho đến nay, tập hợp giáo lý “Gong Chik” là tài liệu tu học thiết yếu và chuyên sâu của chư tăng ni dòng Drikung Kagyu và đồng thời cũng được nghiên cứu bởi những học giả và luận sư của những dòng truyền thừa khác trong Phật giáo Tây Tạng.

 Click Link to DownloadÝ Nguyện Chung Nhất (Gong Chik)

 

Khai Thị Về Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo

Ngày 24.05.2010
Khai Thị Về BA MƯƠI BẢY PHÁP HÀNH BỒ TÁT ĐẠO
______________________________________________________
Garchen Rinpoche

Có thể nói rằng trong vòng 10 năm qua, thầy đã đi hoằng Pháp ở khắp nơi trên thế giới,và Pháp bảo mà thầy đã quảng bá trong suốt khoảng thời gian thầy đi hoằng Pháp, tựu chung chỉ có tuyển tập Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo này mà thôi. Thầy đã thọ nhận giáo lý về Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo từ Bổn Sư của thầy, và đây là tất cả những gì mà thầy đã nương vào để [làm cái gốc cho việc] tu học. Ngoài những giáo lý này ra thì thật ra, thầy đã chẳng học được gì nhiều cho lắm.

Trong Phật Giáo, có những truSu Phu 2 at QB House in 2011yền thống tu tập khác nhau, những pháp môn hành trì khác nhau. Nhưng tựu chung thì tinh tuý của tất cả các giáo lý của Đức Phật chỉ đơn thuần có một mà thôi. Tất cả tinh túy của các Giáo Pháp mà Đức Phật đã giảng dạy cho chúng ta [mà chúng ta nhận được] từ các dòng truyền thừa khác nhau, thực sự chỉ tóm gọn trong hai chân lý. Hai chân lý ấy là [tinh tuý của] tất cả những gì mà Đức Phật đã tuyên thuyết. Đức Phật đã thuyết tất cả 130 pho Kinh, nhưng thực sự những gì được thuyết trong toàn bộ kinh điển cũng không nằm ngoài hai chân lý ấy [chân đế và tục đế].

Đạo Phật cho chúng ta cơ hội được tu tập theo những dòng truyền thừa và những pháp môn khác nhau. Tất cả những truyền thống tu tập này đã được phát triển là bởi vì chúng ta có những nhu cầu khác nhau. Ở trong thế giới này cũng thế, chẳng hạn khi chúng ta nói về thức ăn, thì chúng ta có cơm gạo, có rau trái. Cơm gạo hay rau trái ở đất nước nào cũng giống nhau nhưng chúng ta lại có những phương thức khác nhau để chuNn bị hay nấu nướng. Cũng giống như khi chúng ta nói đến những phương pháp tiếp cận khác nhau trong Phật giáo, ai thích hợp [với pháp tu nào thì] tu theo pháp nấy.

Trong Kim Cang Thừa, chúng ta có tất cả bốn dòng truyền thừa chính, gồm có: Sakya, Nyingma, Gelug và Kagyu. Bốn dòng truyền thừa này đều có những pháp tu khác nhau, những phương thức tiếp cận khác nhau. Trên thực tế, cho dù chúng ta thọ nhận giáo Pháp từ một bậc đạo sư, một lama hay một guru nào đi chăng nữa, thì tựu chung, tất cả chỉ có một con đường, một cái đích tối hậu, và chỉ có một điều duy nhất mà chúng ta cần phải đạt được.

Con đường đó, cái đích đó, điều cần đạt đến đó chính là trí tuệ, là một trong sáu pháp toàn thiện siêu việt [lục độ ba la mật] của con đường tu.

Vậy làm sao để có thể đạt được tuệ giác hay trí tuệ bát nhã ấy? Có những người hành trì theo pháp Đại Thủ Ấn Mahamudra, có những người tu tập theo pháp Đại Viên Mãn Dzogchen, lại có nhũng người tu tập theo pháp biện chứng hay Trung Quán Madhyamika. Nhưng cuối cùng, cho dù theo pháp tu nào đi chăng nữa thì điều quan trọng nhất vẫn là làm sao để trực
nhận ra được bản tâm! Giống như Đức Phật đã giảng dạy cho chúng ta, chúng ta cần phải hoàn toàn nhiếp phục được tâm của mình!

Bây giờ, thầy sẽ chia sẻ đôi lời khai thị về những giai đoạn tu tập [để nhiếp phục tâm], là những giai đoạn tu tập đã được đề ra trong Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo.

Continue reading

Sông Hằng – Lời Dạy Tâm Yếu về Đại Thủ Ấn [Ganges Mahamudra]

SP

GARCHEN RINPOCHE

Khai Thị “SÔNG HẰNG – LỜI DẠY TÂM YẾU VỀ ĐẠI THỦ ẤN” tại đạo tràng Drikung, Sóc Sơn, Hà nội ngày 12-13/1/2014 nhân chuyến hoằng pháp lần thứ nhì tại Việt Nam vào tháng 1/2014

Đại chúng đọc “Sông Hằng: Lời dạy Tâm Yếu Về Đại Thủ Ấn” – Bên bờ sông Hằng, những lời giảng này được Ngài Tilopa dạy cho Naropa.
Đây là điều vô cùng quan trọng và cát tường để chúng ta cùng nhau đọc tụng văn bản này. Văn bản này được tụng đọc bởi rất nhiều đạo sư tâm linh khác nhau và các ngài đã gìn giữ những lời giáo huấn này trong tâm khảm của các ngài xuyên qua nhiều thế hệ khác nhau. Nhiều người cũng đã tu tập dựa trên những lời khai thị này của Sông Hằng – Đại Thủ Ấn. Do đó, năng lực gia trì của văn bản này thật vô cùng mạnh mẽ. Khi chúng ta cùng nhau tụng đọc những lời khai thị này thì có thể những giáo huấn và tinh túy của những lời khai thị này sẽ đi vào trong tâm khảm của chúng ta.  Trưởng Lão Đại Sư Garchen Rinpoche

 Click Link to DownloadLời Dạy Tâm Yếu về Đại Thủ Ấn

 

Tu Tập Phật Pháp

Tu Tập Phật Pháp – Nguồn Mạch Của Hạnh Phúc Nhất Thời Và Vĩnh Cửu

Khenpo Samdup

 

 

 

 

 

 

Soạn thảo do Thầy Khenpo Samdup
Thanh Liên dịch sang Việt Ngữ

 

Bao gồm một tuyển tập giáo lý đạo Phật, quyển sách này thật cần thiết và vô cùng quan trọng. Ngày nay, chúng ta nối kết với nhau nhờ khoa học và kỹ thuật tiến bộ nhanh chóng, và vì thế mọi người bận tâm với việc cố gắng tìm kiếm thêm những tiện nghi, thuận lợi. Vào một thời đại như thế, ý nghĩa của Phật pháp phải được trình bày bằng một phương pháp cô đọng, mạch lạc và rõ ràng. Đặc biệt quan tâm đến những học viên mới bắt đầu, là những người say mê nghiên cứu Phật giáo, Khenpo Samdrup đã hiến tặng tuyển tập này, nó bao gồm nhiều phương diện chính yếu nhất của cái thấy, sự thực hành, và cách hành xử theo Phật giáo bằng một phương pháp thật dễ hiểu và trong sáng. Trong khi được diễn đạt súc tích, quyển sách này vẫn giữ được tính chất rộng rãi, phóng khoáng của những vấn đề cốt yếu của giáo lý. Tôi tin rằng nó sẽ trở thành nguyên nhân cho sự lợi lạc và hạnh phúc của nhiều chúng sinh và chân thành cầu mong ước nguyện này được thành tựu tuyệt hảo.

Trưởng Lão Đại Sư Garchen Rinpoche

 

Click Link to DownloadTu Học Phật Pháp

bottom-Lbottom-R

Khai Thị Của Đạo Sư Garchen Rinpoche Dành Cho Đoàn Phật Tử Người Việt Nam

KHAI THỊ CỦA ĐẠO SƯ GARCHEN RINPOCHE DÀNH CHO ĐOÀN PHẬT TỬ NGƯỜI VIỆT NAM VÀO NGÀY 18/8/2014 NHÂN DỊP THAM DỰ PHÁP HỘI A DI ĐÀ TẠI SINGAPORE

 
SP Khai Thi Phật Tử VN

Công phu đảnh lễ
Thầy muốn khai thị cho chúng ta một chút về công phu đảnh lễ. Thường chúng ta chỉ nghĩ về việc đảnh lễ qua thân, nhưng thực sự có ba loại đảnh lễ: đảnh lễ qua thân, khẩu, và ý. Có những người nghĩ rằng họ lớn tuổi hoặc có giới hạn về thể xác nên họ không đảnh lễ được, nhưng điều này không đúng. Vì thường khi chúng ta đảnh lễ qua thân thì đây chỉ là việc đảnh lễ bình thường thôi, chứ chưa phải cách đảnh lễ trên ý nghĩa tối hậu. Do bởi tất cả những gì chúng ta có thể làm được qua thân để đem đến lợi lạc cho người khác thì đây cũng phải xem là đảnh lễ. Chẳng hạn như khi chúng ta làm công quả ở chùa hay khi chăm sóc cho người bệnh, hoặc khi chúng ta làm bất kỳ một việc hay hành động nào mang lại hạnh phúc và lợi lạc cho người khác, thì tất cả những việc làm này cũng được coi là đảnh lễ qua thân.

Sau khi đảnh lễ qua thân, còn có đảnh lễ qua khẩu hay ngữ. Bất kỳ những gì chúng ta nói mà có thể mang lại lợi lạc cho người khác có thể coi là đảnh lễ qua khẩu. Ví dụ chúng ta từ bỏ việc nói xấu người khác, chỉ nói những điều thiện lành, nhắc nhở cho người khác nghe về nhân quả, tụng đọc các bài quy y, tụng chú mani, tụng bài nguyện hồi hướng, nói những lời làm cho người khác gần gũi hài hòa với nhau, nói những lời từ ái, nói những lời đầy từ bi, v.v. thì đó cũng chính là đảnh lễ qua khẩu hay ngữ.

Nhưng quan trọng hơn cả là đảnh lễ qua tâm của chúng ta. Đó là khi chúng ta hướng tâm của mình đến chư Phật và nghĩ rằng: “Ôi, các Ngài thật là trân quý,” hay chúng ta phát khởi được tình yêu thương và lòng bi mẫn cho tất cả chúng sinh. Khi tâm của chúng ta khởi nên các niệm hướng về Tam bảo trong sáu thời một ngày, cả ngày lẫn đêm, lúc nào cũng hướng về Tam Bảo, luôn nhớ nghĩ đến sự từ ái hay trân quý của Tam Bảo thì đó chính là đảnh lễ qua tâm hay ý. Và trong ba loại đảnh lễ thì đảnh lễ qua ý là quan trọng nhất và có nhiều sức mạnh nhất.

Tri kiến thanh tịnh trong Mật Thừa
Trong Mật thừa thì điều quan trọng nhất là chúng ta cần phát khởi và trưởng dưỡng được một tri kiến thanh tịnh. Thật sự đối với một số người trong chúng ta, khi nói đến tri kiến thanh tịnh thì điều này có vẻ hơi khó hiểu. Nhưng Thầy nói điều này rất dễ hiểu và bây giờ Thầy sẽ khai thị cho chúng ta. Có được một tri kiến thuần tịnh có nghĩa là luôn phải nhìn thấy những gì tốt lành nhất [nơi mọi người mọi sự] và xin đừng soi xét các lỗi lầm hay những điều xấu xa. Chẳng hạn như khi chúng ta nhìn thấy một người đang thọ giới Quy y thì chúng ta cần khởi lên tư tưởng nghĩ rằng, “Ồ, điều này thật là tốt lành, người này đã trở thành một phần của Tăng Bảo và tôi tùy hỷ với người đó”. Như vậy đây là một hình thức có tri kiến thuần tịnh.

Continue reading