Tu Tập Để Tâm An Định và Tu Tập Kim-Cang Thừa

ĐẠI SƯ GARCHEN RINPOCHE BAN KHẨU TRUYỀN VÀ TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA CÁC ĐẠO HỮU THUỘC NHÓM TU HỌC ORGYEN CHOLING VIỆT NAM

Câu hỏi thứ nhấtVẻ bên ngoài của con rất điềm tĩnh nhưng bên trong thường không yên, vọng tưởng nổi lên như sóng cồn. Cầu mong đạo sư chỉ dạy cho con phápgarchen-rinpoche môn tu tập giúp cho tâm được an định.

Trả lời của Garchen Rinpoche:  Đối với những hành giả sơ căn mới bước trên con đường tu tập thì cách tốt nhất là luôn suy gẫm và quán chiếu về Bốn Tư Tưởng Chuyển Tâm (Four Thoughts that Turn the Mind). Bốn Tư Tưởng Chuyển Tâm đó là (1) thân người hiếm quý khó tìm, với đầy đủ thuận duyên để có thể bước đi trên con đường đạo, (2) nhân quả, (3) vô thường và (4) những khiếm khuyết, của cõi ta-bà. Tất cả những vọng tưởng đều phát xuất từ tâm vị kỷ. Gốc rễ của mọi vọng tưởng là do chấp ngã. Nếu con chấp ngã càng nhiều thì những xúc cảm ô trược và vọng tưởng trong con sẽ càng trở nên ào ạt. Khi càng quán chiếu về Bốn Tư Tưởng Chuyển Tâm thì sẽ càng hiểu được rằng tâm vị kỷ và chấp ngã là điều sai trái, tạo thêm ý nghiệp, làm cho con thêm phiền não, đánh mất đi thời giờ tu tập quý báu mà thôi. Hiểu được như vậy rồi thì con sẽ phải thực tập vị tha. Khi bớt chấp ngã và tâm vị kỷ không còn mãnh liệt thì vọng tưởng cũng sẽ dần dần lắng xuống vì những phiền não sẽ không dễ nổi lên, hoặc nếu có nổi lên thì cũng sẽ được nhận diện để chặt đứt đi ngay tức khắc.

Đối với những hành giả trung căn thì phải luôn luôn nuôi dưỡng và thực hành Bồ-Đề tâm, là tâm nguyện cao cả hy sinh cho người khác, luôn luôn quên mình mà xả thân làm những công việc lợi lạc cho chúng sinh, cùng với ý nguyện muốn đắc quả giác ngộ cũng vì lợi lạc cho chúng sinh. Các con phải luôn luôn cố gắng nuôi dưỡng một tâm lành. Tâm tốt lành (a good heart) hay tâm hoà nhã (a kind heart) là điều mà đức Đạt Lai Lạt Ma thường xuyên nhắc nhở chúng ta. Khi tâm lành và tâm hoà nhã được nuôi dưỡng trong mỗi một phút giây thì vọng tưởng cũng sẽ dần dần giảm thiểu.

Riêng đối với các hành giả thượng căn thì các con sẽ phải quán chiếu để hiểu về bản chất của tâm, về bản chất của các xúc cảm của tâm ô trược. Tâm ô trược hay các xúc cảm phiền não không khác chi những cơn sóng ồ ạt trong biển cả. Sóng chính là biển, biển không thể không có sóng. Sóng không khác biển. Cả hai đều hợp nhất. Cũng như thế, vọng tưởng không nằm ngoài chân tâm. Vọng tưởng và chân tâm trên thực chất chỉ là một. Khi sóng tan đi, thì tan đi về đâu? Không đi đâu cả. Sóng trở thành biển. Sóng và biển hợp nhất.

Khi các con thực tập yêu thương, luôn quan hoài đến kẻ khác trong tinh thần vô chấp thì đó chính là tình yêu tối thượng không gì sánh bằng. Khi trong tâm lúc nào cũng chan hoà tình yêu thương tối thượng thì sân hận sẽ giảm thiểu, đố kỵ sẽ giảm thiểu, vọng tưởng sẽ giảm thiểu. Nguồn gốc đưa chúng sinh đoạ vào các cõi thấp chính là tâm sân hận và tâm oán ghét. Do đó, ngay cả bây giờ có phải mất mạng đi nữa thì các con cũng không được phát tâm sân hận hay oán ghét một ai, tuyệt đối không được xoay lưng lại với tình yêu thương! Đây chính là những phẩm hạnh cao cả của giác ngộ.

Cái gì có thể giúp các con thực hành được những điều trên? Chánh niệm và tỉnh thức có thể giúp được các con. Khi tâm sân vừa lóe lên, thì hãy ngay lập tức lấy chánh niệm ra để dập tắt. Rồi sau đó, hãy tỉnh giác và quán chiếu xem cơn giận này từ đâu đến, do đâu mà ra. Hãy cố gắng nhìn vào bản chất của cơn giận. Cơn giận này có thật hay không có thật? Thực chất của cơn giận nằm ở đâu? Hay cũng chỉ là duyên khởi nên trong cơn giận, hãy nhận ra được tánh Không. Nếu các con chịu khó giữ chánh niệm và quán chiếu sâu sắc trong mỗi một phút giây thì một ngày kia, các con sẽ tự giải thoát mình ra được hết tất cả các vọng tưởng và xúc cảm ô trược.

Đức Jigten Sumgon [vị Tổ khai sáng giòng truyền thừa Drikung Kagyu của Phật Giáo Tây Tạng] đã từng nói:

‘Tất cả chư Phật đều nằm trong tâm của chúng sinh.’

Điều này có nghĩa là chư Phật trong ba đời phát xuất từ chính sự thực hành chánh niệm và tỉnh giác của chúng sinh. Tâm của Phật và tâm của chúng sinh cùng một bản chất. Khi thực hành chánh niệm và tỉnh giác thì các con sẽ biết được đâu là sai, đâu là đúng. Từ đó, trí tuệ nảy sinh. Khi trí tuệ nảy sinh thì các xúc cảm ô trược và vọng tưởng sẽ được tiêu trừ ngay từ trong trứng nước.

Thật ra, tâm của Phật và tâm của chúng sinh cùng một bản chất, cùng là nước. Nhưng tâm của Phật giống như nước trong văn vắt, trong khi tâm của chúng sinh thì giống như nước bùn đục ngầu. Bùn đục trong tâm của chúng sinh chính là những xúc cảm ô trược và vọng tưởng, là tâm chấp ngã, bám víu vào cái ta hư huyễn. Dù là như vậy nhưng bùn đục này cũng đâu có nằm ngoài nước, đâu có tách rời khỏi nước? Giống như những xúc cảm ô trược và vọng tưởng cũng không nằm ngoài tâm, không tách biệt khỏi tâm nhưng khi biết cách thanh tịnh hoá thì bùn dơ sẽ lắng xuống, nước trong sẽ trồi lên.

Nếu ngày hôm nay, các con biết quán chiếu để giúp cho bùn dơ lắng xuống và để cho nước trong trồi lên thì mỗi ngày mỗi chút, mỗi tháng mỗi chút, mỗi năm mỗi chút, bùn cạn sẽ càng lắng và phía trên mặt nước sẽ chỉ còn toàn nước trong. Đến một lúc nào đó, khi tâm tỉnh giác của các con hoàn toàn sáng ngời và mãnh liệt nhất, đó là khi các con sẽ thành đạt Phật quả.

Đức Phật đã giảng dạy 84,000 pháp môn, nhưng các con chẳng nên lo lắng có quá nhiều pháp môn [chẳng biết nên theo pháp môn nào]. 84,000 pháp môn đó cũng không nằm ngoài hai chân lý huyền diệu, là tục đế và chân đế, là sự thật tương đối và và sự thật viên mãn. Sự thật thứ nhất là sự thật tương đối, là tình yêu thương, lòng quan hoài vô chấp, vô vị kỷ đến vô lượng chúng sinh. Đây chính là tâm Bồ-Đề tương đối, là tâm tốt lành, tâm hoà nhã, tâm từ ái. Nhưng muốn thực hành được tâm Bồ-Đề tương đối thì các con cần có một hiểu biết đúng đắn về nhân quả! Còn sự thật thứ nhì, sự thật viên mãn là dùng chánh niệm và tỉnh giác để quán chiếu trực nhận tánh Không, trực nhận vô ngã. Khi trực nhận vô ngã thì Bồ-Đề tâm sẽ viên mãn như trăng tròn. Chỉ cần các con thực hành sâu sắc hai chân lý huyền diệu này là các con đã thực hành hết 84,000 pháp môn của đức Phật rồi.

Continue reading

Ý Nguyện Chung Nhất (Gong Chik) – Pháp Vương Kyobpa Jigten Sumgon

“Ý nguyện chung nhất–Giáo pháp thâm diệu,” gọi tắt là “Gong Chik, là tập hợp những khai thị tâm yếu của Pháp Vương Jigten Sumgon về sự chung nhất của các đường tu giải thoát và của quả vị rốt ráo trong Phật đạo. Ở khía cạnh tương đối, như lời ngài khai thị,“tất cả các thừa đều là nhất thừa đến từ một truyền thừa duy nhất” và “tám mươi bốn ngàn pháp môn cũng chỉ là một phương tiện để đạt giác ngộ.” Ở khía cạnh viên mãn thì cái chung nhất ở đây chính là Phật tánh nguyên sơ vốn sẵn có nơi chính nguồn tâm của mỗi chúng sinh.

 

Pháp Vương Kyobpa Jigten Sumgon (Ratnashri) là vị Sơ Tổ khai lập dòng truyền thừa Drikung Kagyu vào thế kỷ 12 tại Tổ đình Drikung Thil ở trung phần Tây Tạng. Ngài được xem như là hiện thân của đức Long Thọ, và nổi danh là người đã triệt ngộ tánh không và các pháp duyên sinh. Ngài đã khai đạo và ban truyền giáo cho hằng trăm ngàn môn đồ đến từ Tây Tạng, Trung Hoa, Mông Cổ, Ấn Độ và Nepal.

Gong Chik,” gồm 152 câu khai thị trong bảy phần chính yếu. Ngoài ra còn có thêm một phần phụ lục gồm bốn mươi sáu câu giải do Đại Sư Tenzin Chokyi Nyima (Dharma Surya), tức Sư Tổ Drikung Kyabgon Chungtsang Rinpoche đời thứ Ba biên soạn vào thế kỷ 18, dựa trên những lời khai thị gốc của Sơ Tổ Jigten Sumgon. Từ thế kỷ 12 cho đến nay, tập hợp giáo lý “Gong Chik” là tài liệu tu học thiết yếu và chuyên sâu của chư tăng ni dòng Drikung Kagyu và đồng thời cũng được nghiên cứu bởi những học giả và luận sư của những dòng truyền thừa khác trong Phật giáo Tây Tạng.

 Click Link to DownloadÝ Nguyện Chung Nhất (Gong Chik)

 

Thông Điệp của Garchen Rinpoche liên về vấn đề Thách Thức Môi Trường đang Gia Tăng trên Thế Giới

SP Amidewa 3Đây là thông điệp tôi muốn gửi tứi tất cả các Phật tử trên thế giới. Nói chung bất kỳ ai thực hành tôn giáo đều cần có tình yêu thương và lòng bi mẫn. Tình yêu thương và lòng bi mẫn này cần được hướng tới mọi chúng sinh. “Nguyện tất cả mọi chúng sinh có được hạnh phúc và thoát khỏi khổ đau.” Vì thế khi những người ở nơi nào đó phải chịu cảnh nóng hay lạnh, bạn nên cầu nguyện Vị [Bảo Hộ] mà bạn đã thọ quy y. Hãy cầu nguyện vì lợi ích của mọi quốc gia trên thế giới: ví dụ “cầu cho những người phải chịu cảnh hạn hán gặp được mưa; cầu cho những người thiếu nước có được nước; cầu dập tắt ngọn lửa gây thương tổn cho một số người.” Bạn nên cầu nguyện theo phong tục của mình.

Là Phật tử chúng ta cũng tụng đọc lời nguyện vì Hòa Bình thế giới hay nhất tâm khẩn nguyện Đức Quan Âm (Tara). Đây là trách nhiệm của mọi hành giả tôn giáo, thậm chí khi chỉ có mình bạn thực hành tại nhà. Những lời khẩn nguyện như vậy chắc chắn mang lại lợi ích. Ngay cả khi chỉ có một hay hai người cầu nguyện thì chắc chắn điều này cũng mang lại lợi ích.

Chúng ta nên cùng nhau cầu nguyện cho an lành của mọi quốc gia. Điều này cũng mang lại lợi lạc cho chúng ta. Nếu chúng ta khép tâm lại và chỉ quan tâm đến sự an lành của bản thân mình thì rõ ràng là điều này sẽ không mang lại nhiều ích lợi. Nhưng nếu bạn cầu nguyện với động lực làm lợi lạc cho cả thế giới này thì thực tế là điều đó sẽ mang cho bạn nhiều lợi lạc nhất và nó cũng sẽ mang lại lợi lạc cho thế giới. Điều này gọi là “viên thành lợi ích của người và ta.” Vì thế mọi người nên khẩn nguyện tới Nguồn Quy Y của chính mình.

Ví dụ các Phật tử có thể khẩn nguyện tới đức Quan Âm (Jetsun Tara), đức Quán Thế Âm (Chenrezig) v.v., trì Lục tự minh chú (chú Mani), thực hiện những nghi lễ tịnh hóa trước các Bảo tháp hay trước những bức tượng Phật nhỏ, bố thí cho động vật .v.v. Tất cả những thực hành này sẽ mang lại lợi ích cho thế giới. Nếu không thì sân hận và đố kỵ sẽ gia tăng trên thế giới này, và tình yêu thương cùng lòng bi mẫn sẽ giảm thiểu. Điều này sẽ dẫn đến việc trái đất nóng lên và cuối cùng nó sẽ bốc cháy.

Vì thế nếu mọi người cùng để tâm đến điều này thì thật là tốt. Tất cả chúng ta nên cầu nguyện và hãy giành mối quan tâm to lớn từ trái tim đến điều này. Nếu chúng ta thờ ơ trước sự đau khổ của người khác chừng nào điều đó không ảnh hưởng tới cá nhân mình thì chúng ta đơn thuần chỉ đang thực hiện nghi lễ với đầu môi chóp lưỡi khi cầu nguyện “Nguyện cho mọi chúng sinh có được hạnh phúc và nguyện cho họ thoát khỏi khổ đau.”

Nguyên nhân duy nhất của mọi thống khổ trên thế giới này như bão lụt bên ngoài và xung đột bên trong là những bất thiện tâm đến từ sân hận và đố kỵ của những cư dân trên hành tinh này. Thay bằng việc giúp đỡ nhau thì người ta lại hãm hại nhau: các đất nước tham gia chiến tranh, con người và các nhóm tôn giáo tranh đấu đánh nhau. Nói tóm lại, tình yêu thương – sự hòa hợp của các yếu tố bên trong – ảnh hưởng đến sự hòa hợp của các yếu tố bên ngoài. Năm loại ô nhiễm của tâm (năm độc) và năm yếu tố bên ngoài liên hệ chặt chẽ với nhau. Chính vì vậy nỗ lực phát khởi tình yêu thương và lòng bi mẫn của chúng ta sẽ mang lại kết quả bởi phẩm chất của ba sức mạnh. Thứ nhất là sức mạnh của tâm nguyện thanh tịnh của chúng ta. Thứ hai là sức mạnh của chư Như Lai. Tất cả chư Phật trong ba thời đã phát nguyện nhưng thêm vào đó chúng ta cần khẩn nguyện các Ngài. Cũng giống như viên ngọc như ý, chỉ khi chúng ta bày tỏ ước muốn thì nó mới được viên thành. Nếu chúng ta khẩn nguyện thì chúng ta sẽ nhận được sức mạnh của tất cả chư Phật, đây là sức mạnh của chư Như Lai. Và thứ ba là sức mạnh của Pháp tánh – luân hồi và niết bàn có cùng một nền tảng. Luân hồi và niết bàn chỉ tạm thời hiện hữu tách biệt bởi những phiền não vào nghiệp [của chúng sinh].

Do kết quả của những hành động được tiến hành bởi tâm thức ô nhiễm mà ngày nay chúng ta chứng kiến rất nhiều khổ đau trên thế giới này. Vậy làm sao để tịnh hóa những tâm thức ô nhiễm đó? Tất cả các cảm xúc ô nhiễm đến từ chấp ngã và phương thuốc đối trị với chấp ngã là tâm vị tha. Tấm lòng vị tha sẽ mang lại lợi lạc cho chúng ta trong mọi hoàn cảnh: trong cuộc đời này, trong cuộc đời tiếp theo và trong giai đoạn trung ấm. Mọi người đều cần có tấm lòng vị tha. Thậm chí một sinh vật nhỏ xíu sẽ trải nghiệm hạnh phúc tương ứng với mức độ vị tha của nó.

Vì thế chúng ta cầu nguyện rằng “nguyện chúng sinh có được hạnh phúc và nhân của hạnh phúc.” Nhân của hạnh phúc chính là tình yêu thương. Và “nguyện cho chúng sinh thoát khỏi khổ đau và nhân của khổ đau.” Nhân của khổ đau chính là chấp ngã. Không có Pháp nào khác ngoài điều đó. Tâm yếu của Pháp chính là tình yêu thương và lòng bi mẫn. Không có Pháp nào tồn tại tách rời khỏi tình yêu thương và lòng bi mẫn. “Phật” mà chúng ta thường gọi chính là tâm trí huệ, là trí huệ bát nhã. Trí huệ tinh tế của Phật tánh là nền tảng của luân hồi và niết bàn. Dó đó nếu một người có tình yêu thương và lòng bi mẫn thì trí huệ sẽ tăng trưởng. Nếu bạn hiểu được điều này, bạn sẽ tìm ra phương pháp để mang lại hạnh phúc và giải thoát khỏi khổ đau.

Vì thế chúng ta nên phát khởi những nguyện ước toàn hảo. Bởi vì thế giới hiện đang trong tình trạng hiểm họa nên tôi đề nghị tất cả mọi người hãy chí thành cầu nguyện.

a

Dịch Tạng – Anh : Ina Dhargye, hiệu đính: Kay Candler
Dịch Anh – Việt: Lan Anh

 

Khai Thị Về Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo

Ngày 24.05.2010
Khai Thị Về BA MƯƠI BẢY PHÁP HÀNH BỒ TÁT ĐẠO
______________________________________________________
Garchen Rinpoche

Có thể nói rằng trong vòng 10 năm qua, thầy đã đi hoằng Pháp ở khắp nơi trên thế giới,và Pháp bảo mà thầy đã quảng bá trong suốt khoảng thời gian thầy đi hoằng Pháp, tựu chung chỉ có tuyển tập Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo này mà thôi. Thầy đã thọ nhận giáo lý về Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo từ Bổn Sư của thầy, và đây là tất cả những gì mà thầy đã nương vào để [làm cái gốc cho việc] tu học. Ngoài những giáo lý này ra thì thật ra, thầy đã chẳng học được gì nhiều cho lắm.

Trong Phật Giáo, có những truSu Phu 2 at QB House in 2011yền thống tu tập khác nhau, những pháp môn hành trì khác nhau. Nhưng tựu chung thì tinh tuý của tất cả các giáo lý của Đức Phật chỉ đơn thuần có một mà thôi. Tất cả tinh túy của các Giáo Pháp mà Đức Phật đã giảng dạy cho chúng ta [mà chúng ta nhận được] từ các dòng truyền thừa khác nhau, thực sự chỉ tóm gọn trong hai chân lý. Hai chân lý ấy là [tinh tuý của] tất cả những gì mà Đức Phật đã tuyên thuyết. Đức Phật đã thuyết tất cả 130 pho Kinh, nhưng thực sự những gì được thuyết trong toàn bộ kinh điển cũng không nằm ngoài hai chân lý ấy [chân đế và tục đế].

Đạo Phật cho chúng ta cơ hội được tu tập theo những dòng truyền thừa và những pháp môn khác nhau. Tất cả những truyền thống tu tập này đã được phát triển là bởi vì chúng ta có những nhu cầu khác nhau. Ở trong thế giới này cũng thế, chẳng hạn khi chúng ta nói về thức ăn, thì chúng ta có cơm gạo, có rau trái. Cơm gạo hay rau trái ở đất nước nào cũng giống nhau nhưng chúng ta lại có những phương thức khác nhau để chuNn bị hay nấu nướng. Cũng giống như khi chúng ta nói đến những phương pháp tiếp cận khác nhau trong Phật giáo, ai thích hợp [với pháp tu nào thì] tu theo pháp nấy.

Trong Kim Cang Thừa, chúng ta có tất cả bốn dòng truyền thừa chính, gồm có: Sakya, Nyingma, Gelug và Kagyu. Bốn dòng truyền thừa này đều có những pháp tu khác nhau, những phương thức tiếp cận khác nhau. Trên thực tế, cho dù chúng ta thọ nhận giáo Pháp từ một bậc đạo sư, một lama hay một guru nào đi chăng nữa, thì tựu chung, tất cả chỉ có một con đường, một cái đích tối hậu, và chỉ có một điều duy nhất mà chúng ta cần phải đạt được.

Con đường đó, cái đích đó, điều cần đạt đến đó chính là trí tuệ, là một trong sáu pháp toàn thiện siêu việt [lục độ ba la mật] của con đường tu.

Vậy làm sao để có thể đạt được tuệ giác hay trí tuệ bát nhã ấy? Có những người hành trì theo pháp Đại Thủ Ấn Mahamudra, có những người tu tập theo pháp Đại Viên Mãn Dzogchen, lại có nhũng người tu tập theo pháp biện chứng hay Trung Quán Madhyamika. Nhưng cuối cùng, cho dù theo pháp tu nào đi chăng nữa thì điều quan trọng nhất vẫn là làm sao để trực
nhận ra được bản tâm! Giống như Đức Phật đã giảng dạy cho chúng ta, chúng ta cần phải hoàn toàn nhiếp phục được tâm của mình!

Bây giờ, thầy sẽ chia sẻ đôi lời khai thị về những giai đoạn tu tập [để nhiếp phục tâm], là những giai đoạn tu tập đã được đề ra trong Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo.

Continue reading

Tu Tập Phật Pháp

Tu Tập Phật Pháp – Nguồn Mạch Của Hạnh Phúc Nhất Thời Và Vĩnh Cửu

Khenpo Samdup

 

 

 

 

 

 

Soạn thảo do Thầy Khenpo Samdup
Thanh Liên dịch sang Việt Ngữ

 

Bao gồm một tuyển tập giáo lý đạo Phật, quyển sách này thật cần thiết và vô cùng quan trọng. Ngày nay, chúng ta nối kết với nhau nhờ khoa học và kỹ thuật tiến bộ nhanh chóng, và vì thế mọi người bận tâm với việc cố gắng tìm kiếm thêm những tiện nghi, thuận lợi. Vào một thời đại như thế, ý nghĩa của Phật pháp phải được trình bày bằng một phương pháp cô đọng, mạch lạc và rõ ràng. Đặc biệt quan tâm đến những học viên mới bắt đầu, là những người say mê nghiên cứu Phật giáo, Khenpo Samdrup đã hiến tặng tuyển tập này, nó bao gồm nhiều phương diện chính yếu nhất của cái thấy, sự thực hành, và cách hành xử theo Phật giáo bằng một phương pháp thật dễ hiểu và trong sáng. Trong khi được diễn đạt súc tích, quyển sách này vẫn giữ được tính chất rộng rãi, phóng khoáng của những vấn đề cốt yếu của giáo lý. Tôi tin rằng nó sẽ trở thành nguyên nhân cho sự lợi lạc và hạnh phúc của nhiều chúng sinh và chân thành cầu mong ước nguyện này được thành tựu tuyệt hảo.

Trưởng Lão Đại Sư Garchen Rinpoche

 

Click Link to DownloadTu Học Phật Pháp

bottom-Lbottom-R

Khai Thị Của Đạo Sư Garchen Rinpoche Dành Cho Đoàn Phật Tử Người Việt Nam

KHAI THỊ CỦA ĐẠO SƯ GARCHEN RINPOCHE DÀNH CHO ĐOÀN PHẬT TỬ NGƯỜI VIỆT NAM VÀO NGÀY 18/8/2014 NHÂN DỊP THAM DỰ PHÁP HỘI A DI ĐÀ TẠI SINGAPORE

 
SP Khai Thi Phật Tử VN

Công phu đảnh lễ
Thầy muốn khai thị cho chúng ta một chút về công phu đảnh lễ. Thường chúng ta chỉ nghĩ về việc đảnh lễ qua thân, nhưng thực sự có ba loại đảnh lễ: đảnh lễ qua thân, khẩu, và ý. Có những người nghĩ rằng họ lớn tuổi hoặc có giới hạn về thể xác nên họ không đảnh lễ được, nhưng điều này không đúng. Vì thường khi chúng ta đảnh lễ qua thân thì đây chỉ là việc đảnh lễ bình thường thôi, chứ chưa phải cách đảnh lễ trên ý nghĩa tối hậu. Do bởi tất cả những gì chúng ta có thể làm được qua thân để đem đến lợi lạc cho người khác thì đây cũng phải xem là đảnh lễ. Chẳng hạn như khi chúng ta làm công quả ở chùa hay khi chăm sóc cho người bệnh, hoặc khi chúng ta làm bất kỳ một việc hay hành động nào mang lại hạnh phúc và lợi lạc cho người khác, thì tất cả những việc làm này cũng được coi là đảnh lễ qua thân.

Sau khi đảnh lễ qua thân, còn có đảnh lễ qua khẩu hay ngữ. Bất kỳ những gì chúng ta nói mà có thể mang lại lợi lạc cho người khác có thể coi là đảnh lễ qua khẩu. Ví dụ chúng ta từ bỏ việc nói xấu người khác, chỉ nói những điều thiện lành, nhắc nhở cho người khác nghe về nhân quả, tụng đọc các bài quy y, tụng chú mani, tụng bài nguyện hồi hướng, nói những lời làm cho người khác gần gũi hài hòa với nhau, nói những lời từ ái, nói những lời đầy từ bi, v.v. thì đó cũng chính là đảnh lễ qua khẩu hay ngữ.

Nhưng quan trọng hơn cả là đảnh lễ qua tâm của chúng ta. Đó là khi chúng ta hướng tâm của mình đến chư Phật và nghĩ rằng: “Ôi, các Ngài thật là trân quý,” hay chúng ta phát khởi được tình yêu thương và lòng bi mẫn cho tất cả chúng sinh. Khi tâm của chúng ta khởi nên các niệm hướng về Tam bảo trong sáu thời một ngày, cả ngày lẫn đêm, lúc nào cũng hướng về Tam Bảo, luôn nhớ nghĩ đến sự từ ái hay trân quý của Tam Bảo thì đó chính là đảnh lễ qua tâm hay ý. Và trong ba loại đảnh lễ thì đảnh lễ qua ý là quan trọng nhất và có nhiều sức mạnh nhất.

Tri kiến thanh tịnh trong Mật Thừa
Trong Mật thừa thì điều quan trọng nhất là chúng ta cần phát khởi và trưởng dưỡng được một tri kiến thanh tịnh. Thật sự đối với một số người trong chúng ta, khi nói đến tri kiến thanh tịnh thì điều này có vẻ hơi khó hiểu. Nhưng Thầy nói điều này rất dễ hiểu và bây giờ Thầy sẽ khai thị cho chúng ta. Có được một tri kiến thuần tịnh có nghĩa là luôn phải nhìn thấy những gì tốt lành nhất [nơi mọi người mọi sự] và xin đừng soi xét các lỗi lầm hay những điều xấu xa. Chẳng hạn như khi chúng ta nhìn thấy một người đang thọ giới Quy y thì chúng ta cần khởi lên tư tưởng nghĩ rằng, “Ồ, điều này thật là tốt lành, người này đã trở thành một phần của Tăng Bảo và tôi tùy hỷ với người đó”. Như vậy đây là một hình thức có tri kiến thuần tịnh.

Continue reading

Mật tông trong cõi người

Kalu Rinpoche

Kalu Rinpoche–Secret Buddhism/Vajrayana Practices

Mật tông có bốn loại. Bốn loại mật tông/tantra, được truyền bá trong cõi người là do sự tiến hóa/suy đồi của loài người.

Theo vũ trụ quan của phật giáo thì vũ trụ nầy thành hình sau một thời gian dài, kết tụ của tứ đại.  Sau khi cái vũ trụ nầy trở thành chổ thích hợp và có khả năng nuôi sống chúnh sanh, những chúng sanh có nghiệp lực giống nhau và có cộng nghiệp, tụ về nơi nầy.  Biệt nghiệp của từng chúnh sanh đưa họ đến đầu thai trong những hình dạng khác nhau, người, hay thú vật, vân vân.

Trong trường hợp của loài người, họ là con cháu của “trời” [descendants of the gods] từ khung trời hửu sắc.  Những vị trời nầy, có khả năng nhập mười bảy tần thiền trong cõi samsara nầy.

Một số các vị trời nầy, khi công đức không còn nhiều, có đôi khi tạm thời du ngọan đến trái đất nầy khi nó bắt đầu có khả năng nâng đở cho sự sống.  Lúc đầu họ cư trú trên cõi của họ, và xuống đây thăm khi họ muốn.

Bởi vì công đức của họ càng ngày càng ít đi, cho đến một lúc nào đó thì họ không còn có thể trở về khung trời hửu sắc được nữa.  Họ ở lại trên trái đất nầy.  Đó là loài người đầu tiên trên trái đất chúng ta.

Lúc đó những xung đột giữa loài người không có mãnh liệt như ta bây giờ.  Ví dụ, chỉ cần trao đổi một cái liếc mắt là đả đủ thỏa mãn tham dục của họ rồi.  Trong thời khúc nầy các cảm xúc rất là nhạy bén, do đó pháp tu “Kriya tantra/Action tantra” thích hợp với những người lúc đó.

Sau đó, phải cần phải cười mới thỏa mãn cái tham dục. Thời điểm nầy đi với Charya tantra/Performance tantra.

Sau đó nữa thì phải cần cầm tay, mới có thể thỏa mãn tham dục, vì thế sanh ra Yoga tantra.

Cuối cùng thì để thỏa mãn tham dục thì cần phải có sự giao hợp, vì thế sanh ra Anuttarayoga tantra/Tối thượng Yoga.

Trong thế giới loài người, còn gọi là dục giới, bốn loại mật tông đi song song với cái khả năng, tham dục rất là phức tạp của loài người.

Kim cang thừa, dựa theo các phương pháp thực hành trong mật điển, tạo ra một phương pháp đạt giải thóat một cách mau lẹ.  Lẹ nhất là một đời, nếu không thì giác ngộ sẽ đạt được trong cõi trung ấm.  Tệ nhất sẽ đạt được giác ngộ sau bảy hoặt mười sáu đời thực tập.

Kalu Rinpoche–Secret Buddhism/Vajrayana Practices