BátNhãBaLaMật Đa

top-Ltop-RwLogo260966725_6c10456c48_o

Prajñaparamita Hydraya —Tâm Kinh

Chử ‘Prajñaparamita’, Việt dịch là BátNhãBaLaMật hay là trí huệ Bát Nhã. Đây là Phạn Ngữ, gồm có hai, chử thứ nhất là ‘Prajña’, Trí Huệ (wisdom) và chử thứ hai “paramita” là sự Tuyệt hảo (perfection).

Trí huệ có hai loại, thứ nhất gọi là Trí huệ thế gian, sự khôn ngoan của thế gian bình thường là sự nhận định, phân biệt sự vật. Đây là những gì chúng ta gọi tư duy, thực nghiệm, hoặc phân tích.

Nghĩa thứ hai là trí tuệ Tuyệt hảo. Đây là sự khôn ngoan để giải thoát cho mình ra khỏi vòng luân hồi, với tất cả khổ đau của nó. Bạn đạt được “sự giải thóat” và sau đó là Phật quả/Buddhahood.

Trí huệ trong trường hợp thứ hai này có ba khía cạnh.

1. Có trí huệ phát sinh từ nghe và học tập,
2. Trí huệ phát sinh từ chiêm niệm (tư duy), và
3. Trí huệ phát sinh từ thiền định.

Những trí huệ phát triển liên tục theo thứ tự. Bạn trau dồi cái trí huệ thứ nhất trước tiên sau khi trí huệ nầy phát sinh cái trí huệ thứ hai phát sinh tiếp theo và cuối cùng có khả năng làm cho cái trí huệ tuyệt hão phát sinh trong thiền định.

Chử ‘Paramita’ trong Prajñaparamita, nghĩa đen là “perfection”, tuyệt hảo, nhưng trong Phật pháp nó có nghĩa là vượt qua khỏi, hơn cả? Vượt qua cái gì? Hơn cả cái gì? Đó có nghĩa là vượt qua khỏi cái ảo mộng của thế gian nầy. Vượt qua khỏi các tà kiến, định kiến mà ta đang có. Là thấy được, là nhìn được qua cái màn u minh đang che tâm ta. Vượt qua sinh tử.

Mọi vật thể ta nhìn thấy vậy nhưng sự thật nó không phải là thế. chúng ta phải có được vượt qua cái hình tướng bề ngoai của các đối tượng, và vượt ra ngoài hai cái thái cực của “có và không có”, “sanh và tử”.

Nhận thức được, hiểu được những điều ngoài hai thái cực nầy (có và không có), chúng ta có thể nhìn thấy cái mà đạo Phật gọi là “sự thực/the truth”, thật tướng của vạn vật.

Ý nghĩa khác là thông qua sự hiểu biết Prajnaparamita, ta nhìn thấy xuyên qua, vượt qua cái “khái niệm sanh tử”. Bản chất của tâm là “vô sanh vô diệt, trường tồn bất biến. Vì sự thiển cận, thiếu hiểu biết mà ta không nhận ra nó và liên tục vướng vào mình trong vòng sinh tử.

Qua Prajnaparamita, ta sẽ khắc phục và loại bỏ si mê, và nhận thức được sự siêu việt của cái tâm ta.

Tiếp theo, ‘hydraya’, trong tiếng Phạn, có nghĩa là ‘trái tim’, “cốt lủy”, “tinh túy”. Vì Prajnaparamita là tinh túy, là linh hồn, là cốt lủy, là tất cả các Phật Pháp.

Prajñaparamita Hydraya —Tâm Kinh, nó tổng kết, gồm thâu tất cả các Pháp Lý của thập phương chư Phật.

Dựa theo lời giãng của Sư Phụ tôi, Garchen Rinpoche. Tôi tóm tắt lại các ý chính,dựa theo cách hành văn của người Việt để cho dể hiểu, không thể nào đúng như ý của thầy mình. Do đó nguyện chư Phật làm cho mọi người khi đọc, “điều sai” không thấy, chỉ thấy chánh Pháp. Mọi sơ sót là lỗi của tôi.

Phương Tiện và Trí huệ/Method and Wisdom

Phương tiện (upaya) và trí huệ (prajna), hai nguyên tắc chính trong hiển và mật.  Hai nguyên tắc nầy có một vài điểm khác nhau tùy theo hành giả theo hiển hay là mật. Tuy nhiên chử phương tiện hàm ý một phương pháp, cách thức, hành động để đưa đến một kết quả, và trí huệ có hàm ý là “sự thông minh để có thể nhận ra và áp dụng các hành động phù hợp trong bất kỳ trình trạng nào.”

Tóm lại, theo mật tông, Phương tiện là tu tập, kiểm soát xử dụng chân khí.  Trí huệ là sự hiểu biết, các kinh nghiệm mà hành giả nhận thức được qua sự tu tập chân khí.

Hiển và mật đều nói rằng, trí huệ chỉ có thể khởi lên khi cái lực của công đức nó đủ sức mạnh làm cho cái tâm của hành giả có khả năng thể hiểu và nhớ.

Đại thừa, phương tiện và trí huệ gồm thâu trong sự thực hành Lục BaLaMật; Bố thí, Trì giới, Nhẩn nại, Tinh tấn, Thiền định và Trí huệ.  Phương tiện là bốn BaLaMật đầu tiên, hai cái sau cùng thuộc về trí huệ.

Ngài Thế Thiên/Shantideva nói rằng:  Không có trí huệ, bốn BaLaMật đầu tiên là “đui mù”.

Tại sao?  Tại vì trí huệ đưa đến sự hiểu biết rằng tất cả pháp (hóa hiện),  “Như sao đêm, như mắt loạn, như ngọn đèn, như huyễn thuật, như sương mai, như bọt nước, như cơn mộng, như ánh chớp, như đám mây — những gì hữu vi nên được quán chiếu như vậy.  –Kinh Kim Cang”

Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán.

Tất cả các pháp hữu vi
Như cơn mộng, như ảo ảnh, như bọt nước, như bóng
Như sương mai, như ánh chớp
Nên nhìn nhận chúng như thế.

–Kinh Kim Cang

Khi hành giả thấm nhuần cái lý trên thì Bố thí, Trì giới, Nhẩn nại, và Tinh tấn không còn vướng bận chủ thể, đối tượng.

Vì không có sở đắc, khi vị Bồ Tát nương tựa vào trí tuệ Bát Nhã nầy thì tâm không còn chướng ngại, vì tâm không chướng ngại nên không còn sợ hãi, xa lìa được cái điên đảo mộng tưởng, đạt cứu cánh Niết Bàn. –Tâm Kinh

Không có trí huệ thì tất cả các hành động Bố thí, Trì giới, Nhẩn nại, và Tinh tấn không đưa hành giả đến giác ngộ mà còn là những lý do tạo thêm che chướng, cột hành giả trong vòng luân hồi.  Nhưng chỉ có trí huê không thôi thì nó cũng là che chướng vì hành giả không có động lực từ bi, không có hành động vị tha.  Do đó hành giả thiếu  một trong những điều kiện để đem đến sự giác ngộ.

Ngài Nhiên Đăng/Atisha nói:

Phương tiện mà thiếu trí huệ,
Hay trí huệ mà không có phương tiện.
Đó là Ràng buộc—Xiềng xích:  Điều nầy đức bổn sư đã dạy.
Thế nên, sự hòa hợp của phương tiện và trí huệ không thể thiếu được.

Phương tiện mà thiếu trí huệ,
Hay trí huệ mà không có phương tiện.
Đó là Ràng buộc—Xiềng xích: Điều nầy đức bổn sư đã dạy.
Thế nên, sự hòa hợp của phương tiện và trí huệ không thể thiếu được.

Hơn thế nữa, phương tiện và trí huệ là hai điều cần thiết vì nếu ta tư duy thì ta hiểu rằng một chúng sanh không gì ngoài “thân và tâm”, rupakaya và dharmakaya.  Hai cái duyên để đem đến hai cái thân nầy không gì khác hơn là công đức tích tụ bởi bốn BaLaMật đầu tiên và trí huệ do sự thực hành hai BaLaMật sau chót .

….tiếp theo …

Nếu tất cả chúng sanh đã giác ngộ, là Phật, rồi thì tại sao lại còn lưu lạc thọ khổ đau trong cõi luân hồi?

Chương “Chân Giác trong mật điển “Kalachakra” ghi rằng:
Tất cả chúng sanh là Phật. Một vị Phật khác hơn thế, không có trong vũ trụ nầy.

Tất cả chúng sanh là Phật. Một vị Phật khác hơn thế, không có trong vũ trụ nầy.
Kalachakra Tantra

All beings are buddhas. Another supreme buddha does not exist in this universe.
Kalachakra Tantra



và trong mật điển Hevajra ghi rằng:
Tất cả chúng sanh thật ra là Phật
Nhưng bị che chướng bởi các vết dơ.
Khi các che chướng mất đi, giác ngộ.

Sentient beings are actually buddhas
But are obscured by adventitious stains.
When these are cleared away, they awaken.
Hevajra tantra

Nếu tất cả chúng sanh đã giác ngộ, là Phật, rồi thì tại sao lại còn lưu lạc thọ khổ đau trong cõi luân hồi?

Trẻ con không thể nhận ra được sự thật.
Do sự dối trá, các trẻ con khờ khạo bị lừa.

The natural condition is not seen by the childish.
Due to deception, the childish are swindled.

Đại thành tựu giả Sahara giải thích:
Trẻ con không thể nhận ra được sự thật.
Do sự dối trá, các trẻ con khờ khạo bị lừa.

Mục đích chính của sự thực hành mật tông là để khống chế, vượt qua được những tập khí (hỷ, nộ ái ố), và nhất là cái “vô minh”, luôn luôn đi song song với tỉnh giác.

Khi những tập khí nầy được tẩy sạch, bởi các phương tiện htiện xảo trên con đường tu tập, cái bản chất tự nhiên của tâm hiển lộ ra. Đó là thực sự là Phật. Và lúc đó hành giả sực nhớ ra rằng mình đã giác ngộ từ vô lượng kiếp.

Khi những tập khí nầy được tẩy sạch, bởi các phương tiện htiện xảo trên con đường tu tập, cái bản chất tự nhiên của tâm hiển lộ ra. Đó là thực sự là Phật

Khi chưa nhận thức được điều nầy thì chúng sanh vẫn mãi mãi trôi nổi trong luân hồi, chịu sanh tử, thọ vui thú lẩn khổ đau.

Dù như thế nào đi chăng nữa, có bao lâu đi chăng nữa, cái chân tâm đó, cái phật tánh đó cũng không bao giờ bị tỳ vết, thay đổi. Cũng giống như ánh sáng soi trên viên ngọc quý hay soi trên vật tầm thường, ánh sáng vẩn như thế. Cái bản tánh tự nhiên của tâm, Phật tánh, bao giờ cũng thế.

 

Phương Pháp Niệm OM AH HUNG/ Vajra Recitation OM AH HUNG do ngài Garchen Rinpoche truyền.

QD
Mật giới thứ bảy:
Tiết lộ giáo lý thực hành bí mật trong Kim Cang Thừa cho những người chưa học hoặc chưa nhận quán đảnh
Tất cả mọi điều về các quán đảnh mật pháp, đặc biệt là các pháp hành bổn tôn và các tri kiến về bổn tôn, nếu quý vị nói cho những đối tượng không thích hợp thì quý vị đã vi phạm mật giới thứ bảy nầy.

Theo truyền thống Kim Cang Thừa, hành giả cần phải thọ nhận lễ quán đảnh hoặc lễ gia lực để đón nhận năng lực gia hộ của chư Phật, Hộ Phật và chư Đạo Sư trước khi hành trì các pháp môn quán tưởng theo hướng dẫn trong các nghi quỹ.  Muốn hành trì theo các pháp tu Kim Cang Thừa, điều cần yếu là phải có một vị chân sư hướng dẫn hành giả từng bước trên con đường tu tập.


Phương Pháp Niệm/Vajra Recitation OM AH HUNG

Bài nầy rút gọn những điểm chính liên quan đến việc thực hành và thêm phần chú thích.  Mọi sơ sót là lổi của người dịch – KGT.

Ngài Garchen Rinpoche hướng dẫn pháp tu tập pháp Niệm OM AH HUNG theo kim cang thừa.  Đây là bài giãng thực hành bổ túc cho “Đại Thủ Ấn Tâm Yếu” của ngài Tilopa.  Ngài Garchen Rinpoche đặt biệt giải thích câu “Nếu những người ít thông minh, không có khả năng an trụ trong ý nghĩa tuyệt đối, những người đó nên chú trọng vào sự “hòa hợp tâm và chân khí” và không nên cố gắng quá nhiều vào tu tập tỉnh giác.  “

“Garchen Rinpoche:  “Ít thông minh” đó là ám chỉ chúng ta.

Garchen Rinpoche: “không có khả năng an trụ trong ý nghĩa tuyệt đối” có nghĩa là khi cái tâm ta nó đuổi theo các sự suy nghĩ và khi các chân khí trong ta chạy theo các karmic wind trong thân, tâm ý và khí tách rời nhau”

Đại Thủ Ấn Tâm Yếu dùng chử “ít thông minh” và “không có khả năng an trụ trong ý nghĩa tuyệt đối”,  đó có nghĩa là gì?

Có vô số chân khí trong thân, nhưng tóm lại thì gồm có năm loại chân khí chính. Ở đan điền, đó là gốc của chân khí của Lửa (equally abiding wind).  Đan điền là nơi trụ của tất cả các chân khí trong người.  Pháp “thở mật tông/vase breathing” là để giử cái tâm ý của ta ở đó.  Thật ra, chân khí Lửa/Hỏa (equally abiding wind) ở luân xa đan điền chính là Vajravarahi/Vajrayogini.  Theo pháp lý “Sáu Yogas của Naropa”

Đại khái có ba đường kinh mạch chính, đường kinh mạch trái, kinh mạch phải và ở giửa là đường kinh mạch trung ương.  Đường kinh mạch trung ương còn gọi là đường kinh mạch Trí Huệ.  Nó là đường kinh mạch quan trọng nhất trong các đường kinh mạch.  Khi ta tụ tất cả chân khí và tâm ý vào đường kinh mạch trung ương, tại luân xa đan điền, đó là ta tu tập “hòa hợp tâm và chân khí” vào một điểm.

Khi ta tụ tất cả chân khí và tâm ý vào đường kinh mạch trung ương, tại luân xa đan điền, đó là ta tu tập “hòa hợp tâm và chân khí” vào một điểm.

Có hai cách để tụ các chân khí vào kinh mạch trung ương, tại luân xa đan điền.  Một phương pháp có dùng quán tưởng và một phương pháp không dùng quán tưởng.  Phương pháp thứ hai là niệm OM AH HUNG (vajra recitation of the syllables Om Ah Hum).

Pháp niệm đặt biệt nầy cộng chung với sự chú tâm để tập trung các chân khí vi tế subtle wind energies).

  1. Ở đan điền, có một ngọn lửa nhỏ như là hột đậu.  Khi ta hít hơi vào qua hai lổ mủi, ta đọc thầm chủng tự “OM”.  Chân khí theo hơi thở chạy xuống và chạy vào kinh mạch trung ương tới phía dưới luân xa đan điền.
  2. Sau đó ta nên giử hơi thở ở đó một thời gian ngắn, và đọc thầm chủng tự “AH”.  Khi đó ta tưởng tượng các chân khí đó làm cho cái ngọn lửa nhỏ như hột đậu đó cháy sáng lên.
  3. Khi ta thở ra, đọc thầm chủng tự “HUNG”.

Trong khi ta tập pháp nầy, hảy nhìn vào cái tánh trống rổng của tâm ta.  Nó sẽ đem lại rất nhiều hửu ích trong sự tu tập Đại Thủ Ấn.

Có rất nhiều đệ tử thâm niên biết rỏ pháp tu nầy,  tuy nhiên thầy mong muốn tất cả đều bắt đầu tu tập pháp môn nầy giống như là thầy vừa dạy như trên.

Để tập pháp môn nầy, lưng của ta cần phải thẳng.  Phần còn lại của thân không sao, nhưng cần nhất là sống lưng phải thẳng. 

Lúc đầu ta cần phải quán tưởng cái ngọn lửa như tả trong phần trên.  Hít hơi thở vào, tụng “OM”.  Trong khi giử hơi thở, trộn chung với chân khí nơi đan điền, quán tưởng sự hòa hợp và tụng “AH”.  Sau hết thở ra với chủng tự “HUNG”.

Hơi thở phải nhẹ nhàng.  Khi dằn hơi thở xuống, đừng có phình bụng ra.  Nhíu hậu môn lại chút xíu, kéo chân khí phía dưới lên và ép chân khí phía trên xuống.  Đây còn gói là “pháp hòa hợp chân khí”.  Khi ta kéo chân khí phía dưới lên và ép chân khí phía trên xuống, đó gọi là “hơi thở như cái bình/the vase breath”. [thở mật tông/vase breathing]

Cái pháp nầy là pháp rút gọn của pháp Tumo hay còn gọi là “lửa tam muội/inner fire”, pháp nầy được tổ Lord Jitgen Sumgön truyền lại.  Thầy đã tập pháp môn nầy, và tự chính mình gặt hái được rất nhiều kết quả tốt đẹp.  Các con sẽ không nghe được pháp môn nầy từ các thầy khác, họ dạy pháp rất là dài dòng.  Thầy truyền lại pháp môn nầy là dựa theo kinh nghiệm thực chứng của thầy.

This transcript was excerpted from teachings given by Kyabje Garchen Triptrül Rinpoche at Drikung Namgyal Ling in Tucson, Arizona in 2005 and supplemented with other pith instructions on the vajra recitation by Garchen Rinpoche. The teachings were interpreted into English by Ari-ma. Transcription of the recorded teachings was done by John Blum, with editing and re-translation by Ari-ma.

© 2007 The Gar Chöding Trust. All rights reserved. This text is available online at www.gar-choding-trust.org. It is free for verbatim reproduction and distribution